Du lịch biển đảo Tây Nam bộ hướng đến phát triển bền vững

0
30
vùng biển đảo Tây Nam Bộ

Du lịch biển đảo từ lâu là một loại hình du lịch quan trọng trên thế giới, ở Việt Nam đây còn là vấn đề thời sự lớn không chỉ về chủ quyền lãnh thổ hay an ninh quốc phòng mà còn có cả một “chiến lược biển đảo” để tất cả cùng hướng ra biển cả và đại dương bằng những hoạt động cụ thể, trong đó có hoạt động du lịch.

Đối với Tây Nam bộ, một vùng đất sở hữu các nguồn tài nguyên du lịch biển đảo đặc thù và cũng khá đa dạng từ lâu đã thu hút nhiều sự chú ý của các nhà đầu tư lăn du khách và sự quan tâm của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch. Các tài nguyên du lịch biển đảo nơi đây cũng đã được khai thác và đầu tư phát triển khá hiệu quả mang lại nguồn thu khá lớn đóng góp vào ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho mọi thành phần tham gia vào hoạt động này và đặc biệt là góp phần rất lớn nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng địa phương.

Tuy nhiên, do kinh nghiệm phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch biển đảo của nước ta chưa có nhiều nên trong hoạt động thực tiễn vẫn còn một số hạn chế nhất định. Vì vậy, vấn đề này nếu không được nghiên cứu nghiêm túc và có những điều chỉnh kịp thời thì hoạt động du lịch biển đảo của chúng ta có thể gánh chịu những hệ quả không đáng có và điều này sẽ gây tác động tiêu cực trực tiếp đến hệ thống tài nguyên du lịch biển đảo cũng như đời sống của cộng đồng địa phương nơi đây.

Với mục đích đó, trong bài viết này chúng tôi cố gắng tiếp cận các hoạt động du lịch biển đảo ở Tây Nam bộ để tìm ra các vấn đề còn vướng mắc từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động du lịch biển đảo ở Tây Nam bộ từng bước phát triển theo hướng bền vững phù hợp với xu thế của thế giới nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng địa phương nơi đây.

Nhận thức chung về du lịch biển đảo và đặc điểm không gian du lịch biển đảo vùng Tây Nam bộ

biển đảo Tây Nam Bộ
Biển và Mầu xanh

Hiện nay, trên thế giới, kể cả tại Việt Nam đều có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch, định nghĩa nào cũng có cơ sở khoa học và bối cảnh riêng. Tuy nhiên, ngoại diên lẫn nội hàm của các định nghĩa là chưa hoàn toàn thống nhất nhưng chung quy lại có thể khái quát lại một số đặc điểm chính như sau:

Du lịch là một dạng hoạt động; cách thức hoạt động gắn liền với sự di chuyển; chủ thể hoạt động là con người; không gian hoạt động của chủ thể là ngoài nơi cư trú thường xuyên của chủ thể (không phải nơi tạm trú hay thường trú); thời gian hoạt động đòi hỏi trong một khoảng thời gian nhất định (không xác định vì tùy thuộc vào nội dung, chương trình di chuyển) ; mục đích chính của hoạt động là thưởng thức các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần ở nơi đến như thư giãn, tham quan, giải trí, khám phá, nghỉ dưỡng (không phải đi học, kinh doanh, xuất khẩu lao động hay làm việc kiếm tiền ở nơi đến), có thể kết hợp du lịch và tìm cơ hội kinh doanh, du lịch kết hợp với học tập… nhưng mục đích chính phải là du lịch và dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động du lịch.

Như vậy, một cách khái quát nhất có thể hiểu: Du lịch là hoạt động của con người di chuyển ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích chính là thường thức các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần ở nơi đến trong một khoảng thời gian nhất định.

Ở Việt Nam chưa có khái niệm chính thức về du lịch biển đảo, trong kế hoạch hoạt động chiến lược nhằm phát triển du lịch biển và giải trí ở khu vực Lough Foyle và Carlingfoed Lough (A strategy and action plan for the development oƒ tarine ourism and Ìeisure in Lough Foyle and Carlingfoed Lough areas), nhóm nghiên cứu của Peter Mac Nulty đã đề xuất: “Du lịch biển là một bộ phận của ngành du lịch mà ở đó du khách tham gia vào những hoạt động nghỉ dưỡng hay những kỳ nghỉ, chuyến đi một cách chủ động hay bị động ở những vùng biển ven bờ, bờ biển và duyên hải”.

Thực tế, khi nghiên cứu du lịch biển đảo từ góc độ không gian, địa lý có thể xem đây là một loại hình du lịch để phân biệt với loại hình du lịch đồng bằng, du lịch đồi núi… Nhưng để hiểu du lịch biển đảo một cách đầy đủ hơn thì chúng ta phải đặt du lịch biển đảo trong mối quan hệ tương quan giữa các loại hình du lịch văn hóa, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng v.v..

Bản chất của du lịch biển đảo là giúp du khách tìm hiểu hay tận hưởng các giá trị sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn vùng biển đảo và có sự tham gia của cộng đồng địa phương: chứ không chỉ đơn thuần như quan điểm trước đây du lịch biển đảo yêu cầu chỉ có 35 (SEA-SAND-SUN).

Từ các quan niệm như đã trình bày, có thể xem: Du lịch biển đảo là hoạt động của con người di chuyển ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình tìm đến khu vực biển, đảo trong một khoảng thời gian nhất định nhằm mục đích chính là thưởng thức các giá trị từ sinh thái tự nhiên đến văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân bản địa.

Tây Nam bộ là vùng đất bao gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương. Các tỉnh Tây Nam bộ có biển bao gồm: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang với tổng chiều dài 744 km, chiếm 22,82% đường bờ biển Việt Nam. Đây là vùng có đường bờ biển dài đứng thứ hai trong cả nước (đứng đầu là bờ biển Nam Trung bộ có bờ biển dài 1.146km, chiếm 35,15% đường bờ biển Việt Nam).

Trong vùng lãnh hải khu vực Tây Nam bộ có rất nhiều đảo lớn nhỏ, ví dụ như quần đảo Bình Trị thuộc huyện Kiên Lương và nhiều đảo nhỏ khác thuộc thị xã Hà Tiên… phần lớn đều là những mỏm đá phiến, có hòn trơ trụi, có hòn phủ đầy rừng rậm, xa hơn nữa là Hòn Rái, quần đảo Nam Du, quần đảo An Thới… và đảo Phú Quốc. Năm xa nhất là quần đảo Thổ Chu, cách đảo Phú Quốc 100km và cách bờ biển Hà Tiên 150km. Điều đáng lưu ý, biển Tây Nam bộ là nơi có hòn đảo lớn nhất nước, đó là đảo Phú Quốc, với diện tích tự nhiên gần 600km” và nhiều đảo có những bãi biển nước trong xanh, cát trắng thu hút rất nhiều du khách đến tham quan.

Bên cạnh các đảo, một yếu tố cũng rất quan trọng và ảnh hưởng không gian biển miền Tây Nam bộ đó là những bãi bồi, đặc biệt là bãi bồi ở Mũi Cà Mau – vùng đất được cấu tạo bởi phù sa từ các cửa sông Cửu Long được hai dòng hải lưu ở vịnh Rạch Giá và biển Đông phối hợp tạo thành. Theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường trước đây, tỉnh Cà Mau tốc độ bồi lấn biển ở khu vực bãi bồi Mũi Cà Mau bình quân mỗi năm khoảng 136 ha.

Đối với trữ lượng hải sản, theo Lê Bá Thảo (1986), vùng biển này có nhiều loài rong biển sinh sống và nguồn hữu cơ khá phong phú từ sông ngòi, kênh rạch đổ ra tạo nguồn thức ăn phong phú nên thu hút rất nhiều loài hải sản đến đây trú ngụ và phát triển.

Đồng thời, biển Tây Nam nằm gần như hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới và một chừng mực nào đó đây là một biển tương đối kín vì có nhiều đảo và quần đảo rộng lớn bao quanh [Lê Bá Thảo (1986): tr.9, 334], điều này thuận lợi cho việc đi lại à các hoạt động đánh bát, vui chơi diễn ra trên biển.

Về địa lý, nếu biển Tây Nam được xem là một phần của biển Đông nằm trong vịnh Thái Lan thì biển Đông được xem là một biển phụ thuộc của Thái Bình Dương, song cũng thông với Ấn Độ Dương. Bờ phía tây tiếp giáp với phần lục địa Đông Nam Á, bao gồm: Singapore, Malaysia, Thái Lan, Campuchia và chủ yếu là Việt Nam (trong đó có một phần bao bọc Tây Nam bộ); phía bắc giáp với Hoa Nam và Đông Hải của Trung Quốc; phía đông ngăn cách với Thái Bình Dương bởi quần đảo Philippines và phía nam ngăn cách với Ấn Độ Dương bởi quần đảo Indonesia.

Về khí hậu, Gia Định thành Thông chí của Trịnh Hoài Đức có ghi rằng Gia Định thuộc về phương ly, âm ít dương nhiều, thường nhiều gió Nam, mà gió từ phương Nam thổi lại nên không lo về bão. Lê Bá Thảo (1986) cũng cho rằng do chịu sự ảnh hưởng điều hòa sâu sắc của biển và nằm gần xích đạo hơn cả nên khí hậu của đồng bằng này có tính đồng nhất tương đối và tính ổn định trên phạm vi toàn lãnh thổ.

Về nhiệt độ, nói chung là vẫn mang tính chất nhiệt đới gió mùa. Cường độ triều lớn và chế độ triều trong ngày đủ loại, điển hình là chế độ bán nhật triều đều (hiếm có trên thế giới).
Vẻ hải lưu ở vùng biển Đông và biển Tây Nam đổi hướng theo mùa. Dòng biển trong biển Tây Nam cơ bản chảy theo hướng chiều kim đồng hồ còn dòng biển của biển Đông bao bọc Tây Nam bộ thì chảy theo hướng ngược lại nên luôn duy trì theo hai hướng đối lập đưa các chất liệu bồi lắng về phía Nam, tích tụ tạo thành mũi Cà Mau.

Về chế độ triều, vùng Tây Nam bộ chịu sự tác động của triều từ ba mặt Đông, Nam và Tây kết hợp và là nơi có những con sông nối liền hai biển lớn (biển Đông và biển Tây Nam) thuộc loại hiếm có trên thế giới [Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diêm, Mạc Đường (1990).

Bên cạnh đó, các giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tính thần của ngư dân vùng biển miền Tây Nam bộ mà cụ thể là các giá trị từ văn hóa biển là những tài nguyên dồi dào và cực kỳ quý giá đối với công tác phát triển du lịch biển đảo nơi đây.

Như vậy, xét về góc độ tài nguyên du lịch, có thể thấy vùng Tây Nam bộ có một thế mạnh và tiềm năng rất lớn để khai thác cho hoạt động du lịch biển đảo mà không phải nơi nào cũng có được.

Dựa vào đặc điểm tự nhiên chúng tôi đề xuất phân chia biển Tây Nam bộ thành 3 khu vực: (1) khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp phù sa của sông Cửu Long, chủ yếu là bãi bùn ngập nước với sự góp mặt của mắm, đước, sú, vẹt… (từ Tiền Giang đến khu du lịch chùa Hang – Hòn Phụ Tử, xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang); (2) khu vực chuyển tiếp, chịu ảnh hưởng ít từ phù sa của sông Cửu Long (từ khu du lịch chùa Hang – Hòn Phụ tử, xã Bình An, huyện Kiên Lương đến thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang); (3) khu vực không chịu ảnh hưởng phù sa của sông Cửu Long với nhiều bãi biển cát trắng, biển trong xanh (khu vực các đảo Lại Sơn, An Sơn, Nam Du thuộc huyện Kiên Hải, Kiên Giang), đảo Phú Quốc và các quần đảo, xã đảo thuộc huyện Phú Quốc, Kiên Giang.

Trong 3 khu vực trên, mỗi khu vực có một đặc điểm tự nhiên và hệ sinh thái biển khác nhau, do vậy việc khai thác các hoạt động du lịch biển đảo ở từng khu vực này cần được nghiên cứu kỹ và triển khai các mô hình khác nhau sao cho phù hợp với đặc điểm của từng nơi.

Một số vấn đề đặt ra đối với hoạt động du lịch biển đảo vùng Tây Nam bộ

Với những tiềm năng và lợi thế vốn có, những năm qua hoạt động du lịch biển đảo ở vùng Tây Nam bộ đã có những bước phát triển đáng kể và có nhiều đóng góp cho địa phương. Tuy nhiên, trong công tác phát triển vẫn còn bộc lộ những vấn đề cần nghiên cứu một cách nghiêm túc. Theo báo cáo về chiến lược nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng và việc làm trong hoạt động du lịch biển (A European strategy for more growth and jobs in coastal and marine tourism) của Hội đồng châu u (European Commission) cho rằng hoạt động du lịch biển đảo nói chung cơ bản đứng trước một số thách thức như: sự hạn chế về trình độ, kiến thức về lĩnh vực du lịch biển đảo (knowledge gap); thiếu kỹ năng và tư duy đổi mới (lack of skills and innovation); thiếu sự ổn định (volatility); làm tăng áp lực về môi trường (environmental pressures) và chia cắt manh mún, tự phát (fragmentation). Đối với hoạt động du lịch biển đảo ở vùng Tây Nam bộ cũng không ngoại lệ, tuy nhiên, dựa vào thực tiễn, bước đầu chúng tôi xin nêu ra một vài vấn đề sau: (1) Nhận thức về du lịch biển đảo của các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch; (2) Công tác quy hoạch và xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch; (3) Mối quan hệ giữa dịch vụ du lịch trên biển và hoạt động đánh bắt của ngư dân; (4) Nguy cơ gia tăng ô nhiễm môi trường; (5) Nguy cơ làm biến đổi bản sắc văn hóa địa phương.

Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát triển du lịch biển là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đẩy mạnh phát kinh tế biển Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”. Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đã xác định rõ 7 khu vực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch, trong số đó đã có tới khu vực là thuộc dải ven biển.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đã phê duyệt Đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020” vào ngày 15/8/2013 với những quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển rất cụ thể. Giai đoạn hiện nay là thời điểm các địa phương, các vùng miền trong cả nước, trong đó có vùng Tây Nam bộ, đặc biệt là các tỉnh ven biển đang tập trung đẩy mạnh thực hiện hoạt động du lịch biển đảo.

Nhiều tỉnh cũng đã đưa chủ trương phát triển du lịch biển đảo vào Nghị quyết của Đảng. Do có được sự quan tâm, tạo điều kiện của cơ quan quản lý các cấp cùng với lợi thế về tài nguyên nên những năm qua du lịch biển đảo ở một số địa phương ven biển Tây Nam bộ phát triển nhanh chóng, điển hình như Phú Quốc (Kiên Giang). Đây là điều rất phấn khởi vì sự phát triển du lịch biển đảo đã làm thay đổi hắn diện mạo đô thị ở nhiều địa phương ven biển, nhu cầu lao động được đáp ứng, đời sống cư dân địa phương được nâng lên rõ rệt.

Tuy nhiên, khi quá trình phát triển diễn ra một cách nhanh chóng là rất dễ dàng dẫn đến những hệ quả không tốt nếu chúng ta không kiểm soát được và nếu muốn kiểm soát được tốt thì đòi hỏi đầu tiên ở mọi thành phần tham gia vào lĩnh vực này phải thật am hiểu về lĩnh vực du lịch biển đảo với những yêu cầu khắt khe của nó để đáp ứng các nguyên tắc phát triển bền vững.

Ngành du lịch ở nước ta đi sau thế giới trên 100 năm, đối với hoạt động du lịch biển đảo thì còn lâu hơn thế cho nên hệ thống tri thức, kinh nghiệm của các quốc gia có thế mạnh về phát triển du lịch biển đảo đủ để cho chúng ta tìm hiểu, học tập và tìm cách vận dụng vào điều kiện thực tế ở địa phương một cách linh hoạt, sáng tạo nhưng phải đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững đã đặt ra.

Hiện nay, một vấn đề hết sức cấp bách đó là chúng ta chưa có khái niệm chính thức về du lịch biển đảo cho nên việc hiểu về du lịch biển đảo ở mỗi nơi chưa giống nhau. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi cố gắng tiếp cận một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về du lịch biển trên thế giới để tạm đưa ra nhận thức ban đầu về du lịch biển đảo. Nhận thức về du lịch biển đảo trên thế giới cũng tùy vào giai đoạn mà cũng có những thay đổi nhất định. Ví dụ như, thời gian ban đầu, du lịch biển đảo chỉ yêu cầu có 3S (SEA, SAND, SUN) theo đúng hình thức của loại hình du lịch sinh thái thuần túy nhưng càng về sau khi du khách tham gia vào du lịch biển đảo thì họ không chỉ yêu cầu có 3S mà vấn để quan trọng là họ muốn hòa vào cả một không gian văn hóa biển đảo ở địa phương từ văn hóa vật chất đến văn hóa tỉnh thần với nhiều hoạt động cụ thể.

Chính từ những thay đổi này nên hoạt động du lịch biển đảo hiện nay, vai trò của cộng đồng địa phương, đặc biệt là ngư dân và cư dân ven biển rất quan trọng và góp phần rất lớn vào thành công của hoạt động du lịch biển đảo.

Nhiều năm qua, không phải chỉ riêng ở vùng biển Tây Nam bộ mà nhiều nơi trong cả nước thường tận dụng rất triệt để các bãi biển để xây dựng từ công trình kiên cố đến các nhà tạm để phục vụ kinh doanh du lịch. Dọc theo 3.260 km bờ biển của nước ta, sẽ dễ dàng tìm thấy nhiều cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch nằm sát bãi biển hoặc thậm chí là chồng lấn lên trên bãi biển.

Điều này, ngay thời điểm hiện tại có thể tạo cho du khách cảm giác tiện lợi khi tham gia các hoạt động du lịch diễn ra trên bãi biển và trên biển. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của quốc tế và khuyến cáo của các nhà nghiên cứu biển trên thế giới thì điều này gây ảnh hưởng không ít đến môi trường sống của hệ động, thực vật khu vực ven bờ.

Mặt khác, hiện nay quá trình biến đổi khí hậu đang diễn ra nhanh chóng và có nhiều ảnh hưởng đến Việt Nam nói chung và vùng Tây Nam bộ nói riêng. Tại hội thảo “Tác động của biến đổi khí hậu đối với : đồng bằng sông Cửu Long” do Trung tâm Giáo dục, Truyền thông Môi trường tổ chức từ ngày 2 – 3/3/2010 tại Cần Thơ, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều cảnh báo và các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng chỉ . ra rằng hầu hết các tỉnh vùng biển ở đồng bằng sông Cửu Long đều chịu ảnh hưởng bởi nước biển dâng.

Như vậy với xu thế nước biển tiến thì trong nhiều năm tới các công trình ven biển có khả năng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi nước biển.
Theo nghiên cứu của Biliana Cicin-Sain và Robert W.Knecht thì việc xây dựng các công trình gần biển phải tuân theo một số nguyên tắc để đảm bảo môi trường sinh thái bờ biển và ít chịu hậu quả của quá trình biển tiến. Vùng bờ biển được phân chia thành các khu vực sau:
(1) Đường thủy triều, (2) bãi biển, (3) khu vực A (cách bãi biển 50m), (4) khu vực B (cách bãi biển 100m), (5) cuối cùng đến khu vực đất liền.

Khu vực bãi biển là khu vực không được xây dựng, lấy cát, đá, sỏi và cũng không được thực hiện các hành vi khác làm mất cân bằng hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên.
Khu vực A là khu vực cách bãi biển 50m. Đây là khu vực hoàn toàn không được phép xây dựng.

Khu vực B là khu vực cách bãi biển 100m. Đây cũng không phải là khu vực được khuyến khích xây dựng các công trình kiên cố mà chủ yếu là nên thực hiện các công trình công cộng nhỏ phục vụ khách du lịch và cộng đồng).

Loại hình du lịch biển đảo được chú trọng phát triển, mở rộng đồng nghĩa với các công trình, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ du lịch được xây dựng ở các bãi biển ngày càng nhiều, điều này cũng đồng thời làm cho các bãi biển dành cho cộng đồng, không gian sống, nơi sinh hoạt của của ngư dân cũng cùng lúc dần dần bị thu hẹp.

Với những lợi ích rõ ràng trước mắt mà hoạt động du lịch biển đảo mang đến cho cộng đồng địa phương thì xét về góc độ nào đó mối quan hệ giữa chúng cũng ẩn chứa những mâu thuẫn tiềm tàng và gây tác động đến đời sống sinh hoạt của cộng đồng ngư dân.

Như vậy, với quan điểm phát triển du lịch gắn với cộng đồng địa phương, cộng đồng ngư dân và việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch biển, đảo cũng cần phải có quy hoạch rõ ràng, những tính toán kỹ lưỡng, những bước đi vững chắc và quan trọng là phải dựa vào lý luận, nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn của thế giới chứ không phải chỉ dựa vào lập trường và điều kiện của địa phương hay vùng miền.

Mặt khác, Tây Nam bộ cũng cần có quy hoạch phát triển lịch biển đảo của vùng đặt trong mối quan hệ với các vùng miền khác trong cả nước. Như đã trình bày ở trên, chúng tôi đề xuất 3 khu vực ưu tiên phát triển hoạt động du lịch biển đảo khác nhau, khu vực 1 nên tránh đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất quy mô, kiên cố phục vụ khách du lịch biển đảo (như khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí) mà nên vận dụng khai thác thế mạnh về văn hóa sinh thái đặc thù của địa phương mà nơi khác không có được. Khu vực 2; mà đặc biệt là khu vực 3 là nơi có nhiều điều kiện hơn về phát triển du lịch biển đảo nhưng cũng cần cân nhắc về mật độ đầu tư cũng như cần lựa chọn mô:-hình phát triển phù hợp.

Trong nhận thức và thực tiễn phát triển loại hình du lịch biển, đảo ở nước ta từng giai đoạn đều có những biểu hiện chưa phù hợp chính vì do nhìn loại hình du lịch biển, đảo như là một đối tượng xơ cứng và bị đóng khung. Thời gian đâu, du lịch biển, đảo được hiểu đơn giản chỉ là các hoạt động của du khách tìm về các bãi biển đẹp chủ yếu là để tắm biển và tham gia các hoạt động thể thao trên biển cùng với thưởng thức hải sản. Giai đoạn sau (khi nhận thức về loại hình du lịch biển, đảo được đầy đủ hơn) thì yếu tố văn hóa cộng đồng, đặc biệt là khai thác các giá trị văn hóa của cộng đồng ngư dân được chú ý.

Các hoạt động của loại hình du lịch biển, đảo ngày càng gắn chặt hơn với cuộc sống của ngư dân, trong đó có hoạt động đánh bắt (hoạt động sinh tồn chính của cộng đồng) và các giá trị văn hóa của họ. Quan điểm này không sai nhưng về cách làm nếu không có quy hoạch và những tính toán kỹ lưỡng thì có thể gây ra những mâu thuẫn không đáng có.
Các nhà nghiên cứu về biển trên thế giới đã chỉ ra rằng hoạt động du lịch biển đảo trong nó ẩn chứa mâu thuẫn với đời sống của ngư dân.

Theo Biliana Cicin-Sain và Robert W. Knecht thì ngành du lịch được xem là ngành kinh tế lớn và thu về nhiều lợi nhuận cho các quốc gia ven biển. Mặc dù loại hình du lịch biển là một hoạt động kinh tế quan trọng của các quốc gia ven biển nhưng nó vẫn có nhiều tác hại đến các vùng ven biển và môi trường biển. Những mâu thuẫn giữa ngành du lịch (ở đây được hiểu là hoạt động du lịch biển, đảo) và cộng đồng ngư dân đã được nhiều nhà nghiên cứu minh chứng.

Điển hình một vài trường hợp nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ngành du lịch và các hoạt động giải trí khác đã phát triển nhanh chóng ở các quốc đảo ở vùng biển Caribean và có nhiều mâu thuẫn nghiêm trọng giữa các hoạt động trên biển của du khách (0í dụ như các hoạt động lặn biển) và hoạt động đánh bắt của ngư dân.

Biliana Cicin-Sain và Robert W. Knecht cũng cho biết thêm những bãi san hô, đá ngầm đẹp thường là những điểm được lựa chọn cho hoạt động lặn biển và góp phần phá hủy hệ sinh thái biển và môi trường sống của các loài thủy sinh, gây tác động gián tiếp đến việc đánh bắt và đời sống của của ngư dân),
Nhóm nghiên cứu Glasson, Godfrey và Goodey cho rằng: “ Hoạt động du lịch luôn ẩn chứa những mầm mống gây hại; nó có thể hủy hoại chính nó và phá hủy luôn những yếu tố tự nhiên độc đáo từ địa phương mà du khách muốn đến để trải nghiệm”), Đối với hoạt động du lịch biển đảo thì càng ẩn chứa những mầm mống gây hại cho môi trường rõ ràng hơn và điều này chính là nguyên nhân làm mất cân bằng và hủy diệt hệ sinh thái biển đảo cùng môi trường sống của chúng ta cũng như đe dọa nghiêm trọng nguyên tắc phát triển du lịch biển đảo bền vững.

Ở Tây Nam bộ, vấn nạn ô nhiễm môi trường tự nhiên, đặc biệt là ô nhiễm môi trường biển đảo đang diễn ra khá trầm trọng. Các khu dân cư vùng biển phần lớn có đường cống, kênh mương ngập rác, nước bẩn đen ngòm đo nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất hôi thối của các cơ sở chế biến thủy hải sản trong vùng. Các kênh mương, hồ ao bị lấp dần trong rác và không có cống thoát nước.

Nước thải có khi lãn hóa chất độc hại lại dẫn xuống biển làm môi trường biển bị nhiễm độc và hủy hoại nguồn thủy hải sản sinh tụ gần bờ hoặc không khí còn bị ô nhiễm nặng do nạn phơi cá phân, mắm ruốc [Phan Thị Yến Tuyết (2014): tr.150 – 154]… Trong công trình Đời sống Xã hội – Kinh tế – Văn hóa của ngư dân và cư dân vùng biển Nam bộ, tác giả Phan Thị Yến Tuyết cũng chỉ ra trường hợp nghiên cứu ở đảo Hòn Heo (Kiên Giang), một hòn đảo như viên bích ngọc nhưng không được quy hoạch và người dân thì sống tạm bợ, nhà cửa tồi tàn xơ xác, cư dân sống chen lẫn chung với những rạch nước nhỏ hôi thối ngập rác tràn lan vào nhà.

Không chỉ riêng vùng đảo Hòn Heo mà còn nhiều khu dân cư ven biển, đảo ở vùng Tây Nam bộ cũng sống trong môi trường đáng báo động như thế. Chính ý thức bảo vệ môi trường của cư dân địa. Phương còn kém cùng với sự vào cuộc của các cơ quan chức năng chưa quyết liệt nên rác thải từ các khu dân cư theo các con kênh nhỏ rồi cũng đổ hết ra biển, điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên biển đảo và công tác phát triển hoạt động du lịch biển đảo.

Mặt khác, bản thân hoạt động du lịch biển đảo cũng chính là tác nhân gây ô nhiễm môi trường như: Nước thải và rác thải sinh hoạt trực tiếp từ các cơ sở vật chất phục vụ du lịch như các Resort, khách sạn, nhà hàng… ven biển; rác thải từ các hoạt động vui chơi, giải trí của du khách trên biển, điển hình là việc tổ chức ăn uống và vứt rác bừa bãi trên các bãi biển chất thải và rác thải từ các hoạt động của cộng đồng khi tham gia phục vụ khách du lịch như việc đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản… Ngoài ra, mật độ khách du lịch biển đảo ngày càng tăng dẫn đến tình trạng quá tải ở các điểm du lịch cũng là tác nhân gây ô nhiễm môi trường biển đảo. Tuy nhiên, chung quy lại đều là do ý thức bảo vệ môi trường của các thành phần tham gia du lịch biển đảo, trong đó có doanh nghiệp, đội ngũ phục vụ trong hoạt động du lịch, du khách, ngư dân, cư dân địa phương còn chưa tốt và năng lực quản lý môi trường, trong đó có môi trường biển đảo của cơ quan chức năng địa phương còn chưa cao và chưa hiệu quả.

Hiện nay hoạt động du lịch biển đảo ở Tây Nam bộ ngày càng phát triển nhanh chóng nên rất dễ dẫn đến những tác hại đến môi trường biển đảo nơi đây. Vì vậy, nếu các cơ quan quản lý du lịch và các cơ quan quản lý môi trường ở địa phương không có những biện pháp quản lý chặt chẽ, hiệu quả cũng như giúp cộng đồng địa phương, du khách nâng cao ý thức bảo vệ môi trường khi tham gia vào hoạt động du lịch biển đảo thì tương lai không xa nơi đây sẽ gánh chịu những hệ quả khó lường trước được.

Khi du lịch chưa phát triển thì hầu hết cư dân các vùng ven biển, hải đảo ở Tây Nam bộ đa số sống dựa vào nghề đánh bắt hay nuôi trồng thủy hải sản hoặc các ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi nhỏ nhưng nhìn chung là đời sống kinh tế tương đối vất vả, trừ một số ít người làm chủ phương tiện đánh bắt hay chủ doanh nghiệp chế biến thì có đời sống kinh tế ổn định hơn. Những nămgần đây, một số địa phương ven biển như ở Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau bắt đầu đầu tư phát triển du lịch thì một bộ phận cư dân nơi đây đã chuyển sang tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạt động du lịch vì do thu nhập khá hơn. Trong số các địa phương có những khởi sắc về phát triển du lịch biển đảo có thể thấy rõ đó là cụm du lịch Kiên Lương, Hà Tiên và đặc biệt là Phú Quốc (Kiên Giang).

Phú Quốc là hòn đảo có rất nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển loại hình du lịch biển đảo. Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 178/2004/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” đã tạo ra một điểm nhấn và tiền đề quan trọng để phát triển du lịch biển đảo ở Phú Quốc với tầm vóc khu vực và quốc tế.

Từ đó đến nay hàng loạt văn bản quan trọng để tạo cơ chế chính sách thuận lợi cũng như tháo gỡ các vướng mắc cho các nhà đầu tư từ Trung Ương đến địa phương đã được ban hành, điển hình như quyết định số số 80/2013/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Với những lợi thế đó, hoạt động du lịch biển đảo nhiều năm nay đã trở nên rất sôi động. Sân bay, bến cảng quốc tế đã được hoàn thành, hệ thống nhà hàng, khách sạn, cơ sở vui chơi giải trí ven biển phục vụ khách du lịch mọc lên hàng loạt, hệ thống đường nhựa, bê tông được đầu tư toàn đảo, điện chiếu sáng trên đảo đã được kết nối với điện lưới quốc gia… giúp cho quá trình đô thị hóa ở Phú Quốc diễn ra rất nhanh và số lượng du khách trong nước lẫn quốc tế đến du lịch Phú Quốc ngày càng tăng.

Du lịch phát triển kéo theo giá đất trên đảo cũng tăng rất nhanh, một bộ phận cư dân sở hữu nhiều đất đã trở thành những tỷ phú rất nhanh chóng và bắt đầu tạo sự phân hóa giàu nghèo rõ ràng trên đảo. Trong số đó, cũng có những trường hợp nhanh chóng trở thành người “tay trắng” vì rơi vào cuộc sống hưởng thụ, con cái coi nhẹ việc học hành, phấn đấu và rơi vào cuộc sống thực dụng, đua đòi. Mặt khác, khi du lịch phát triển thì vật giá cũng tăng theo nên những cư dân nghèo trên đảo cuộc sống càng chật vật hơn. Vật chất đối với họ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết và điều này cũng đồng nghĩa với đời sống tinh thần và bản sắc văn hóa ở nơi đây sẽ giảm sút đi.

Một số đề xuất bước đầu nhằm hạn chế những vấn đề thực tiễn đặt ra

Với những vấn đề thực tiễn về hoạt động du lịch biển đảo ở Tây Nam bộ đang đặt ta trước mắt, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp bước đầu như sau:

Một là, tăng cường học tập, nghiên cứu hệ thống lý luận và thực tiễn của những quốc gia có kinh nghiệm phát triển du lịch biển đảo trên thế giới, từ đó tìm những điểm phù hợp áp dụng cho vùng Tây Nam bộ, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các chuyên gia về du lịch biển đảo cũng như chú ý phổ cập kiến thức toàn diện về du lịch biển đảo và phát triển bền vững cho mọi thành phần tham gia vào hoạt động này.

Hai là, rà soát mọi hoạt động du lịch biển đảo đang diễn ra trên địa bàn, trên cơ sở đó tiến hành điều chỉnh kịp thời các trường hợp sai phạm nhằm giúp cho các hoạt động du lịch biển đảo phát triển đúng theo hướng bền vững. Việc quy hoạch và xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ du lịch biển đảo phải chú ý những khuyến cáo của các nhà nghiên cứu về du lịch biển và phát triển đô thị ven biển trên thế giới, đồng thời lồng ghép với các cảnh báo về biến đổi khí hậu và nguy cơ biển tiến, đồng thời không gian biển phải bố trí khu vực bãi biển phục vụ cho hoạt động vui chơi của cộng đồng địa phương, cũng như các khu vực dành cho các hoạt động đánh bắt, khai thác hải sản của ngư dân.

Ba là, kêu gọi sự tham gia của ngư dân, cư dân ven biển và cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch biển đảo trên cơ sở người dân được đảm bảo về lợi ích kinh tế và hiểu rõ và biết cách thực hiện các nội dung mà mình tham gia. Tuy nhiên tránh trường hợp phát triển du lịch tự phát và manh mún đơn lẻ. Bên cạnh đó cũng cần có các đề án nhằm khai thác hiệu quả các giá trị văn hóa biển đảo địa phương phục vụ du khách.

Bốn là, phải thắt chặt công tác bảo vệ môi trường, có biện ph xử lý rác thải, nước thải từ hoạt động du lịch cũng như thường xuyên vệ sinh môi trường bãi biển, cửa sông, song song đó có nhiều hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức trong cộng đồng, có biện pháp theo dõi, chế tài các những trường hợp vi phạm, đảm bảo môi trường biển đảo phải xanh – sạch – đẹp.

Năm là, có giải pháp bảo vệ các giá trị văn hóa tốt đẹp cộng đồng địa phương, đặc biệt là cư dân và ngư dân ven biển.

Đẩy mạnh phát triển du lịch biển đảo ở vùng Tây Nam bộ là một định hướng phù hợp với xu thế chung cũng như khai thác được tài nguyên và các giá trị văn hóa biển đảo phong phú ở nơi đây. Điều này góp phần rất lớn vào tiến trình đô thị hóa nông thôn và các khu vực ven biển, hải đảo, giúp giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Tuy nhiên, để tăng cường tính hiệu quả của loại hình kinh tế, dịch vụ này, chúng ta cần tiếp thu nghiêm túc hệ thống lý luận và kinh nghiệm của các quốc gia đi trước để có thể tránh được những rủi ro, hệ quả ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cộng đồng.

Những vấn đề đối mặt khi phát triển du lịch biển đảo ở Tây Nam bộ mà chúng tôi đặt ra như về nhận thức về du lịch biển đảo của các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch; công tác quy hoạch và xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch; mối quan hệ giữa dịch vụ du lịch trên biển và hoạt động đánh bắt của ngư dân; nguy Cơ gia tăng ô nhiễm môi trường; nguy cơ làm biến đổi bản sắc văn hóa địa phương cũng chưa phải là đây đủ. Tuy nhiên, đây là những vấn đề quan trọng trước mắt cần được nghiên cứu, tìm hướng giải quyết kịp thời nhằm giúp cho hoạt động du lịch biển đảo phát triển theo hướng bền vững đúng theo nghĩa của nó.

>>> Xem thêm: Cùng đi thăm mây trời, sóng biển Côn Đảo

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here